Category Archives: AMOS

mô hình SEM, CFA, AMOS

Convergent Validity , Discriminant Validity, Reliability in CFA – Độ giá trị hội tụ, Độ giá trị phân biệt,Độ tin cậy khi phân tích CFA

Giới thiệu:

Nhóm MBA Bách Khoa bàn về độ giá trị hội tụ, độ giá trị phân biệt và độ tin cậy khi phân tích CFA. Lưu ý những khái niệm này cũng có khi chạy Cronbach's alpha và EFA với SPSS( link này: http://phantichspss.com/gia-tri-hoi-tu-va-gia-tri-phan-biet-trong-spss-la-gi.html). Nhưng bên đây xài Amos nhé.

Lý do phải đánh giá chỉ tiêu này

Nếu các nhân tố của bạn không chứng minh độ giá trị và độ tin cậy , việc chạy SEM sẽ không có ích gì, vì rác đầu vào sẽ dẫn đến rác đầu ra (garbage in, garbage out). Có một vài biện pháp hữu ích cho việc xác lập tính hợp lệ và độ tin cậy: Độ tin cậy tổng hợp Composite Reliability (CR), Phương sai trích Average Variance Extracted  (AVE), Maximum Shared Variance (MSV) và Average Shared Variance (ASV). Các ngưỡng cho các giá trị này như sau:

Độ tin cậy:

– CR> 0,7
Độ giá trị hội tụ Convergent Validity :

– AVE> 0.5
Độ giá trị phân biệt Discriminant Validity :

– MSV <AVE
– Căn bậc hai của AVE > các tương quan giữa hai khái niệm

Nếu giá trị hội tụ không thỏa, do biến quan sát không có tương quan với những biến khác trong cùng nhân tố,nghĩa là biến tiềm ẩn không được giải thích tốt bởi các biến quan sát của nó.
Nếu giá trị phân biệt không thỏa, do biến quan sát có tương quan cao với biến quan sát khác nằm ở nhân tố khác. nghĩa là biến tiềm ẩn được giải thích tốt hơn bởi những biến quan sát ( của nhân tố khác) hơn là những biến quan sát của chính nó.
Nếu bạn cần trích dẫn, cứ dựa vào sách này nhé:"Hair, J., Black, W., Babin, B., and Anderson, R. (2010). Multivariate data analysis (7th ed.): Prentice-Hall, Inc. Upper Saddle River, NJ, USA."

Trên đây là Convergent Validity , Discriminant Validity, Reliability in CFA – Độ giá trị hội tụ, Độ giá trị phân biệt,Độ tin cậy khi phân tích CFA, các bạn cần hỗ trợ khi làm bài, xử lý số liệu cứ liên hệ nhóm nhé.

Liên hệ:

-Zalo/viber qua số điện thoại so-alo

-Facebook: http://facebook.com/hoidapSPSS/

-Email: hotrospss@gmail.com

 

Mức độ phù hợp mô hình Model Fit và các chỉ số đo độ phù hợp mô hình trong phân tích AMOS

Nhóm Thạc Sĩ  QTKD Bách Khoa giới thiệu đến các bạn các phần sau trong bài:

  1. Khái niệm độ phù hợp mô hình model fit.
  2. Các chỉ số đo độ phù hợp của mô hình
  3. Cách cải thiện độ phù hợp của mô hình dùng chỉ số MI Modification indices
  4. Cách cải thiện độ phù hợp của mô hình dùng chỉ số Standardized Residual Covariances (SRCs).

Độ phù hợp mô hình model fit là gì?

Sự phù hợp của mô hình được xác định bởi sự tương ứng giữa ma trận hiệp phương sai quan sát được và một ma trận hiệp phương sai ước lượng lấy kết quả từ mô hình được đề xuất proposed model.
SEM sử dụng một chuỗi các đo lường để miêu tả giả thiết nghiên cứu giải thích dữ liệu input như thế nào. Dữ liệu input tạo thành ma trận hiệp phương sai giữa các biến đo lường.
Nếu chúng ta  giải thích được đến tất cả các mối tương quan chính vốn có trong tập dữ liệu (liên quan đến các biến trong mô hình của chúng ta) thì chúng ta sẽ có mô hình phù hợp good fit. Nếu có sự khác biệt giữa những mối tương quan đề xuất và những mối tương quan quan sát được, chúng ta sẽ có một mô hình có độ phù hợp thấp poor fit. Mô hình đề xuất không "phù hợp" với mô hình quan sát, mô hình ước lượng.

Các chỉ số đo độ phù hợp của mô hình

Các chỉ số đo độ phù hợp của mô hình, goodness of fit được liệt kê dưới đây, kèm theo với ngưỡng giá trị chấp nhận. Độ phù hợp mô hình nghịch đảo với kích cỡ mẫu và số biến quan sát trong mô hình. Vì thế, ngưỡng dưới đây chỉ là hướng dẫn chung thôi nhé. Chi tiết về ngưỡng cụ thể, xem bảng 12-4 trong sách Hair et al. 2010 trang  654(Hair, J., Black, W., Babin, B., and Anderson, R. (2010). Multivariate data analysis (7th ed.): Prentice-Hall, Inc. Upper Saddle River, NJ, USA.). 


Chỉ số


Ngưỡng chấp nhận


Chi-square/df (cmin/df)


<3 thì tốt, <5 đôi khi chấp nhận được


CFI


>0.9


GFI


>0.9


TLI


>0.9


RMSEA


<0.05


PCLOSE


>0.05

Khi chương trình chạy ra ta sẽ xem các giá trị model fit như hình sau:

Ngoài ra còn một số chỉ số đo lường độ phù hợp khác, cụ thể chi tiết các chỉ số như sau:

χ2 / df < 3 : dùng để đo mức độ phù hợp một cách chi tiết hơn của cả mô hình, dùng so sánh model với data, càng nhỏ càng tốt.

SRMR : standardized root mean square residua: là sự khác biệt giữa phần data thực tế và phần mô hình dự đoán. Dao động từ 0->1,càng nhỏ càng tốt, SRMR=0 thì mô hình dự đoán hoàn toàn trùng khớp với dữ liệu, <=5% thì tốt.

CFI: comparative fix index.  Lấy độ phù hợp của một mô hình với một bộ data và so sánh với độ phù hợp của một mô hình khác với chính data đó. Dao động từ 0->1 , càng lớn càng tốt.  CFI>=90% . Những chỉ số dạng này :TLI (Tucker–Lewis index), BL89 (Bollen's fitndex), RNI (relative noncentrality index). CFI là một phiên bản được hiệu chỉnh của RNI. CFI dùng để tránh đánh giá thấp độ phù hợp khi cỡ mẫu nhỏ khi sử dụng NFI. Vì thế, ưu điểm của CFI so với NNFI là ít bị tác động của cỡ mẫu.

RMSEA: root mean square errors of approximation, cũng dạng như SRMR, nhưng sự phù hợp sẽ xấu đi khi số biến trong mô hình tăng, <=8% thì tốt. , nên SRMR được ưu tiên dùng hơn.

GFI(goodness of fix index): dao động từ 0.0 đến 1.0 , đôi khi âm, >=90% là tốt. đo lượng quan hệ của phương sai và hiệp phương sai trong ma trận hiệp phương sai. Ý là mô hình phù hợp cỡ nào khi so sánh với mô hình null ( các tham số đã được fix về 0)

AGFI : (Adjusted Goodness of Fix) dao động từ 0.0 đến 1.0 ,  >=85 % là tốt.  điều chỉnh kết quả của một mô hình phức tạp , điều chỉnh bậc tự do df với số biến quan sát , vì thế đề cao những mô hình đơn giản với ít biết quan sát.

Cách cải thiện độ phù hợp của mô hình

Chỉ số MI Modification indices

Chỉ số MI đưa ra các biện pháp khắc phục cho các sai lệch giữa mô hình được đề xuất và mô hình ước lượng estimated model. Trong CFA, chúng ta không thể thêm các đường hồi qui để sửa mô hình phù hợp, vì tất cả các đường hồi qui giữa các biến tiềm ẩn và biến quan sát được đã có sẵn. Vì vậy, trong CFA, chúng ta xem xét các chỉ số sửa đổi cho hiệp phương sai. Nói chung, chúng ta không được sử dụng các mũi tên hiệp phương sai covariances giữa phần dư (error terms) với biến quan sát hoặc  biến tiềm ẩn. Đồng thời cũng không được sử dụng giữa những error terms mà không thuộc cùng một nhân tố. Do đó, cách phù hợp nhất để sử dụng chỉ số MI là nối các mũi tên hai chiều hiệp phương sai giữa các phần dư trong cùng một nhân tố.

Mô hình có Chi-square càng nhỏ càng  tốt. Cột MI gợi ý cho bạn xem nên móc  mũi tên hai đầu vào cặp sai số nào để  có thể cải thiện Chi-square Khi  đó  GFI, TLI, CFI … cũng sẽ  được cải  thiện. Bạn nên chọn  những trường hợp mà có MI lớn để ưu  tiên móc trước. Sau  đó, chạy lại mô  hình, và xem nên móc tiếp giữa hai sai  số nào để tiếp tục cải thiện… Tuy nhiên, một mô hình không nên  móc quá nhiều mũi tên hai đầu giữa các  cặp sai số!

Hình dưới đây minh hoạ hướng dẫn này

 

Chỉ số Standardized Residual Covariances (SRCs).

Có một cách cải thiện độ phù hợp của mô hình ngoài chỉ số MI, đó là dùng Standardized Residual Covariances (SRCs). Chỉ số này cũng giống như modification indices , nghĩa là chỉ ra sự khác nhau giữa mô hình đề xuất và mô hình ước lượng(proposed and estimated models). Tuy nhiên, những sai lệch đó có đáng kể mới được sử dụng. Hệ số standardized residual covariance đáng kể khi có giá trị tuyệt đối lớn hơn 2,58. Những giá trị đó làm giảm đáng kể độ phù hợp mô hình của bạn. Các quy tắc cải thiện mô hình cũng tương tự như chỉ số MI( nghĩa là chỉ số nào lớn thì xử lý trước). Tuy nhiên, cần lưu ý rằng trong thực tế, việc áp dụng cách này nên hạn chế, bởi vì việc giải quyết theo cách này đòi hỏi phải loại bỏ các items trong bài của mình. Nghĩa là xóa luôn một vài câu hỏi trong bài, chứ không đơn thuần là móc chỉ số covariances như khi áp dụng MI

Trên đây là Mức độ phù hợp mô hình Model Fit và các chỉ số đo độ phù hợp mô hình trong phân tích AMOS, các bạn cần hỗ trợ khi làm bài, xử lý số liệu cứ liên hệ nhóm nhé.

Liên hệ:

-Zalo/viber qua số điện thoại so-alo

-Facebook: http://facebook.com/hoidapSPSS/

-Email: hotrospss@gmail.com

Xử lý lỗi AMOS: In order to analyse data with missing observations, you must explicitly estimate means and intercepts

Hôm nay nhóm ThS QTKD ĐH Bách Khoa Hỗ Trợ AMOS hướng dẫn các bạn cách xử lý một lỗi khá khó chịu trong AMOS.

Lỗi hiển thị như sau:

 

Khi phân tích CFA sẽ gặp lỗi này, việc này ngăn cản không thể tính toán các bước tiếp theo được.

An error occurred while attempting to fit the model. In order to analyse data with missing observations, you must explicitly estimate means and intercepts. In amos graphics, place a check next to "Estimate means and intercepts" in the "Analysis Properties" window. In programming the Amos engine ,use the ModelMeansAndIntercepts

Ý nghĩa thông báo lỗi:

Khi phân tích với dữ liệu bị thiếu, cần phải chỉ định trực tiếp trung bình và hệ số chặn. Tuy nhiên không nên làm theo hướng dẫn này, vì không có liên quan gì đến bài cả, nếu làm theo hướng dẫn này thì càng làm sẽ càng sai, không giải quyết được bản chất vấn đề( do chương trình nghĩ mình đang thực sự cần phân tích với dữ liệu không đầy đủ)

Cách xử lý lỗi:

Tìm xem chỗ nào dữ liệu bị thiếu, điền thêm dữ liệu vào, hoặc xóa luôn dòng đó. Dữ liệu bị thiếu trong SPSS là khi ô dữ  liệu đó bị trống( hiển thị bằng dấu chấm như hình dưới), không có số, nguyên nhân do nhập sót, hoặc file excel gốc bị thiếu dẫn đến data bị thiếu trong SPSS.

Sau khi đã tìm được tất cả dữ liệu bị thiếu, bạn xử lý nó, lưu file lại và chạy AMOS lại sẽ hết bị lỗi nhé.

Như vậy nhóm MBA Bách Khoa HCM đã hướng dẫn xử lý xong lỗi: In order to analyse data with missing observations, you must explicitly estimate means and intercepts. Các bạn liên hệ nhóm để được tư vấn, đào tạo, khảo sát dữ liệu,xử lý bài cho tốt hơn nhé.

Liên hệ:

-Viber/zalo qua số điện thoại so-alo

-Facebook: http://facebook.com/hoidapSPSS/

-Email: hotrospss@gmail.com